Tài khoản hoặc mật khẩu không đúngTài khoản chưa được kích hoạt
Hỏi:
(eD) - UBCKNN trả lời các nội dung liên quan đến lĩnh vực chứng khoán đối với kiến
nghị của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam: Nội dung phản ánh thứ nhất: Điểm c khoản 46 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định người có
liên quan là tổ chức/cá nhân cũng chịu chung sự kiểm soát nhưng chưa có bất kỳ
hướng dẫn nào để xác định các đối tượng này, gây khó khăn/lúng túng trong
việc áp dụng, cũng như thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin đối với giao dịch
với người có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của BSR, có thể
xác định nhầm/sót các đối tượng là người liên quan và công bố thông tin không
đầy đủ. Nội dung phản ánh thứ hai:
Khoản 11 Điều 1 Luật số 56/2024/QH15 ngày 29/11/2024 sửa đổi Luật
Chứng khoán quy định Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc trường hợp
sau đây: “1. Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường
hợp sau đây: a) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên, có vốn chủ
sở hữu từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết
do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ;”
Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) là công ty đại chúng đã
đăng ký niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Căn
cứ Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2024, tỷ lệ sở hữu cổ phiếu có
quyền biểu quyết do cổ đông lớn của Công ty là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
nắm giữ là 92,13%. Do vậy, kể từ ngày 01/01/2026, BSR không đáp ứng điều
kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 của Luật Chứng khoán số
54/2019/QH14 được sửa đổi bổ sung tại khoản 15 Điều 1 Luật số
56/2024/QH15. Ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của BSR, cần được tháo gỡ
sớm để BSR không bị hủy tư cách công ty đại chúng. Nội dung phản ánh thứ ba:
Theo điểm g khoản 1 Điều 158 Luật Doanh nghiệp 2020, biên bản họp hội
đồng quản trị phải bao gồm kết quả biểu quyết mà trong đó ghi rõ những thành
viên tán thành, không tán thành và không có ý kiến. Quy định này ghi nhận khả
năng một thành viên tham dự họp có thể không đưa ra ý kiến đối với nội dung
được thảo luận và biểu quyết.
Tuy nhiên, theo điểm c khoản 5 Điều 41 Luật Chứng khoán 2019, thành
viên hội đồng quản trị phải có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của hội
đồng quản trị và có ý kiến về các vấn đề được đưa ra thảo luận. Điều này cũng
được quy định tương tự tại điểm b khoản 2 Điều 277 Nghị định 155/2020/NĐCP về hướng dẫn Luật Chứng khoán, theo đó, thành viên hội đồng quản trị có
trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp và có ý kiến về các vấn đề được đưa
ra thảo luận.
Sự thiếu thống nhất giữa các quy định nêu trên có thể dẫn đến việc một số
thành viên hội đồng quản trị căn cứ vào quy định của Luật Doanh nghiệp để cho
rằng việc không đưa ra ý kiến trong cuộc họp không vi phạm trách nhiệm của
thành viên hội đồng quản trị. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá và xử
lý trách nhiệm cá nhân của thành viên hội đồng quản trị trong hoạt động quản trị
công ty đối với công ty đại chúng. Nội dung phản ánh thứ tư:
Điều 293 Nghị định 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán yêu cầu đối với một số
giao dịch của công ty đại chúng với cổ đông, người quản lý doanh nghiệp và
người có liên quan phải được đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị chấp
thuận.
Tuy nhiên, quy định có một số điểm chưa thống nhất về thẩm quyền của
đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị, cụ thể như sau: điểm b khoản 4 quy
định đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền chấp thuận đối với giao dịch có giá trị
từ 35% trở lên hoặc giao dịch dẫn đến tổng giá trị giao dịch phát sinh trong vòng
12 tháng kể từ ngày thực hiện giao dịch đầu tiên có giá trị từ 35% trở lên tổng
giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ, giá trị khác nhỏ
hơn theo quy định tại Điều lệ công ty giữa công ty đại chúng với một trong các
đối tượng sau:
+ Thành viên hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc
(Giám đốc), người quản lý khác và người có liên quan của các đối tượng này;
+ Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng vốn
cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
+ Doanh nghiệp có liên quan đến các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều
164 Luật Doanh nghiệp; điểm c khoản 4 quy định đại hội đồng cổ đông có thẩm
quyền chấp thuận đối với hợp đồng, giao dịch vay, bán tài sản có giá trị lớn hơn
10% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài chính gần nhất giữa công ty và cổ
đông sở hữu từ 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên hoặc người có
liên quan của cổ đông đó. Khoản 5: Quy định hội đồng quản trị chấp thuận các
hợp đồng, giao dịch tại điểm c khoản 4 có giá trị nhỏ hơn 35% tài sản theo báo
cáo tài chính gần nhất hoặc theo tỷ lệ thấp hơn do Điều lệ quy định. Tuy nhiên,
quy định này không đề cập đến điểm b khoản 4, dẫn đến việc không làm rõ thẩm
quyền của hội đồng quản trị đối với các giao dịch có giá trị dưới 35% quy định
tại điểm b khoản 4.
Vấn đề chồng lấn: Trên thực tế, một giao dịch với cổ đông sở hữu trên 51%
cổ phần có giá trị từ trên 10% đến dưới 35% tổng tài sản có thể đồng thời thuộc
phạm vi điều chỉnh của cả điểm b và điểm c khoản 4. Do đó, không rõ cơ quan
nào có thẩm quyền phê duyệt – đại hội đồng cổ đông (theo điểm b khoản 4) hay
hội đồng quản trị (theo khoản 5), dẫn đến khả năng hiểu và áp dụng khác nhau,
tiềm ẩn rủi ro pháp lý trong thực tiễn thực hiện.
03/09/2025
Trả lời:
Trả lời của UBCKNN về nội dung phản ánh thứ nhất:
(i) Luật Chứng khoán được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, phù hợp với
các chuẩn mực và thông lệ quốc tế (IOSCO, các mô hình luật Mỹ – SEC và
châu Á). Trong đó, thuật ngữ “control” (kiểm soát) là thuật ngữ phổ biến để
xác định người có liên quan (related persons/parties) trong lĩnh vực chứng
khoán và tài chính.
(ii) Đây là nội dung được áp dụng ổn định từ Luật Chứng khoán 2006.
(iii) Thuật ngữ “kiểm soát” tại Luật Chứng khoán được hiểu rộng hơn và
bao quát hơn khái niệm “chi phối”, bao gồm cả kiểm soát trực tiếp và gián
tiếp, cả về pháp lý lẫn thực tế. Quy định này hướng tới sự công khai các lợi
ích liên quan, trách nhiệm giải trình, minh bạch các thông tin liên quan của
người có liên quan. Ngoài ra, quy định này còn để đảm bảo tính công khai,
2
minh bạch và còn có ý nghĩa đối với cơ quan quản lý nhà nước khi xác đinh
hành vi nghiêm cấm theo quy định của Luật, như giao dịch nội gián (sử dụng
thông tin nội bộ mà mình có được để giao dịch chứng khoán thu lời cá nhân,
thông qua việc mượn tài khoản để giao dịch, người giao dịch là người kiểm
soát về mặt thực tế, mặc dù về mặt pháp lý không phải đứng tên tài khoản).
(iv) Ngoài ra, phạm vi quy định về kiểm soát tại Luật Chứng khoán là
khác so với quy định tại Chuẩn mực số 07 (Kế toán các khoản đầu tư vào công
ty liên kết), 08 (thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh), 25 (Báo
cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con) ban hành và
công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC.
Trả lời của UBCKNN về nội dung phản ánh thứ hai: (i) Mục tiêu xây dựng Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 và Luật số
56/2024/QH15 (trong đó có nội dung sửa đổi Luật Chứng khoán) là nằm nâng
cao chất lượng, đảm bảo tính minh bạch, công bằng trên thị trường chứng
khoán, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư
nhỏ lẻ, qua đó, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.
(ii) Ngày 04/7/2025, Bộ Tài chính đã có công văn số 9978/BTC-UBCK trả
lời Viettel, Tập đoàn công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam về vấn đề
này. Theo đó, trường hợp các công ty con của PVN và Viettel có nhu cầu duy trì
là công ty đại chúng, đề nghị các đơn vị nghiên cứu có các biện pháp để đảm
bảo cơ cấu cổ đông của các công ty đáp ứng điều kiện công ty đại chúng theo
quy định.
(iii) Ngoài ra, theo khoản 7 Điều 59 về quy định chuyển tiếp của Luật Quản
lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15: “Trong thời gian
thực hiện kế hoạch cơ cấu lại đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, các
3
doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi từ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần đang niêm yết, đăng ký giao dịch trên
Sở Giao dịch chứng khoán chưa đáp ứng điều kiện công ty đại chúng về cơ cấu
cổ đông theo quy định của Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 56/2024/QH15 thì không bị hủy tư cách
công ty đại chúng.”. Đề nghị PVN và BSR căn cứ vào quy định này để xác định
đối tượng cho phù hợp. Trả lời của UBCKNN về nội dung phản ánh thứ ba: Luật Doanh nghiệp quy định chung cho mọi loại hình doanh nghiệp còn
Điều 41 Luật Chứng khoán 2019 quy định về nội dung quản trị công ty áp dụng
với công ty đại chúng. Căn cứ Điều 3 Luật Doanh nghiệp:“Trong trường hợp
luật khác có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải
thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật
đó”. Do đó, hai quy định nêu trên là phù hợp, thống nhất.
Trả lời của UBCKNN về nội dung phản ánh thứ tư: Vấn đề này được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 293
Nghị định 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
UBCKNN gửi Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam.