THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Tôi có khoản vay tại một ngân hàng trên địa bàn tỉnh từ năm 2023, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của gia đình. Trên đất không có công trình xây dựng.

Đến đầu năm 2026, do hoạt động kinh doanh gặp khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán, tôi và ngân hàng đã thống nhất phương án xử lý nợ xấu, cụ thể:

Ký biên bản bàn giao tài sản bảo đảm, bàn giao thực địa cho ngân hàng quản lý;

Ký biên bản thỏa thuận xử lý tài sản bảo đảm (thỏa thuận về giá bán, lựa chọn tổ chức đấu giá, thẩm định giá…), nhưng chưa thực hiện chuyển quyền sử dụng đất.

Sau đó, ngân hàng thực hiện bán tài sản thông qua đấu giá và việc đấu giá đã hoàn tất. Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục chuyển quyền cho người trúng đấu giá, cơ quan thuế yêu cầu người mua tài sản kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng với thuế suất 10%.

Tôi được biết khoản thuế này đã được tổ chức đấu giá khấu trừ từ tiền bán tài sản và kê khai thay cho người mua. Việc này dẫn đến việc nghĩa vụ nợ của tôi chưa được xử lý triệt để và phát sinh thêm nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng.

Tôi đã tìm hiểu và được cơ quan thuế viện dẫn Công văn số 13401/BTC-CST của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc áp dụng như vậy chưa thực sự phù hợp, bởi tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của tôi tại thời điểm xử lý, do đó có thể thuộc trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.

Kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải đáp cụ thể vướng mắc nêu trên.

29/06/2026
Trả lời:

Công văn 13401/BTC-CST ngày 28/8/2025 của Bộ Tài chính trả lời Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về kiến nghị sửa đổi Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15.

Tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định người nộp thuế bao gồm: 1. Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).

Tại khoản 24 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 2 Luật số 09/2026/QH16) quy định đối tượng không chịu thuế bao gồm: “25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách; Chính phủ quy định mức doanh thu năm tại khoản này phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.”.

Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/5/2026 của Chính phủ quy định: 1. Sửa đổi cụm từ “500 triệu đồng” thành “01 tỷ đồng” tạiĐiều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 11, khoản 1 và khoản 2 Điều 12, khoản 4 Điều 17, khoản 3 Điều 18 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.

Tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về thuế suất: 3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.

Về vấn đề này, Cục Thuế đã có công văn số 4614/CT-CS ngày 22/10/2025.

Đề nghị độc giả Trịnh Thị Phương Thảo nghiên cứu quy định nêu trên và công văn số 4614/CT-CS để thực hiện theo quy định của pháp luật. 

Gửi phản hồi: