THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Tôi hiện đang tìm hiểu, nghiên cứu các quy định liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư của cá nhân và có một số vướng mắc kính đề nghị được hướng dẫn cụ thể như sau:

Theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 24 Luật Đầu tư năm 2025, dự án đầu tư của cá nhân không thuộc trường hợp phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi được quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Đồng thời, tại điểm a khoản 2 Điều 26 Luật Đầu tư năm 2025 quy định nhà đầu tư trong nước không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Tôi xin hỏi: Đối với trường hợp nhà đầu tư cá nhân không thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư và cũng không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì cơ quan nhà nước sẽ căn cứ vào hồ sơ, tài liệu hoặc nội dung nào để xem xét tính hợp pháp, tính phù hợp và tính khả thi của dự án khi thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai?

Bên cạnh đó, trong trường hợp không có các nội dung liên quan đến đăng ký đầu tư thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ thực hiện công tác quản lý, theo dõi và kiểm soát các dự án đầu tư của cá nhân trên địa bàn bằng hình thức nào để bảo đảm thống nhất, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện?

Kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, làm rõ cụ thể các nội dung nêu trên để có cơ sở nghiên cứu và triển khai thực hiện đúng quy định.

25/05/2026
Trả lời:

- Điểm a khoản 8 Điều 24 Luật Đầu tư áp dụng đối với trường hợp: Dự án đầu tư của cá nhân mà nhà đầu tư có đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; dự án có đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đaikhông thuộc diện phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi được quyết định cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trong trường hợp này, dự án không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư quy định tại khoản 8 Điều 24 Luật Đầu tư.

- Về căn cứ giao đất, cho thuê đất: Căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, trong đó theo khoản 6 Điều 4 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP bổ sung Điều 44 vào sau Điều 43 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP như sau:

“Điều 44. Căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư theo pháp luật về đầu tư

Căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư theo pháp luật về đầu tư là quy hoạch sử dụng đất cấp xã hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.”.

Do vậy, đề nghị nghiên cứu các quy định nêu trên và liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và môi trường để được hướng dẫn cụ thể về thủ tục giao đất, cho thuê đất theo thẩm quyền (nếu cần thiết).

- Về quản lý nhà nước đối với dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư và không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

Theo quy định tại Điều 45 Luật Đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư và kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý.

Bên cạnh đó, nhà đầu tư, tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư phải thực hiện chế độ báo cáo hoạt động đầu tư theo quy định tại Điều 47 Luật Đầu tư. Theo đó, nhà đầu tư thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về việc thực hiện dự án đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.

Ngoài ra, Thông tư số 55/2026/TT-BTC ngày 15/5/2026 quy định cụ thể về các mẫubáo cáo liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước có thể quản lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá tình hình dự án đầu tư thông qua quá trình kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư và việc báo cáo định kỳ của nhà đầu tư.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 29 và khoản 5 Điều 47 Luật Đầu tư, nhà đầu tư có trách nhiệm tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng, lao động, phòng cháy và chữa cháy, quy định khác của pháp luật có liên quan, văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có) và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có) trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư. Đối với các dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư báo cáo cơ quan đăng ký đầu tư trước khi thực hiện dự án đầu tư.

Do vậy, đề nghị nghiên cứu, thực hiện theo các quy định nêu trên.

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính gửi ông Nguyễn Trung Hiếu để nghiên cứu, thực hiện theo quy định pháp luật./.

Gửi phản hồi: